Đái tháo đường type 2 là rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu do đề kháng insulin phối hợp với suy giảm chức năng tế bào beta tụy.
Trước đây, đái tháo đường type 2 chủ yếu gặp ở người lớn, nhưng hiện nay bệnh được ghi nhận ở trẻ em và có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt ở nhóm thừa cân, béo phì, ít vận động, có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường type 2 hoặc có biểu hiện đề kháng insulin.
Một thống kê tại Mỹ ghi nhận tỷ lệ mắc đái tháo đường type 2 năm 2017 là 0,67/1000 trẻ, cao gấp 16 lần so với năm 2001.
Yếu tố nguy cơ
Cần nghĩ đến đái tháo đường type 2 ở trẻ sau tuổi dậy thì hoặc từ 10 tuổi trở lên, đặc biệt khi trẻ có thừa cân hoặc béo phì kèm một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau:
- Tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường type 2, nhất là cha mẹ hoặc anh chị em ruột.
- Mẹ bị đái tháo đường thai kỳ trong lúc mang thai trẻ.
- Dấu hiệu đề kháng insulin: gai đen, béo bụng, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hội chứng buồng trứng đa nang ở trẻ gái.
- Trẻ sinh nhẹ cân so với tuổi thai hoặc có tăng cân nhanh sau sinh.
- Lối sống ít vận động, ăn nhiều thực phẩm giàu năng lượng, nước ngọt, thức ăn nhanh.
- Dậy thì: đây là giai đoạn sinh lý có tăng đề kháng insulin, dễ bộc lộ bệnh ở trẻ có sẵn yếu tố nguy cơ.
Đái tháo đường type 2 được nhận biết thế nào?
Biểu hiện lâm sàng của đái tháo đường type 2 ở trẻ em rất thay đổi. Một số trẻ được phát hiện tình cờ khi xét nghiệm vì béo phì, gai đen hoặc tiền sử gia đình.
Một số trẻ có triệu chứng tăng đường huyết rõ như uống nhiều, tiểu nhiều, tiểu đêm, sụt cân, mệt mỏi, nhìn mờ, nhiễm nấm da hoặc nhiễm nấm sinh dục tái diễn. Trẻ gái có thể kèm rối loạn kinh nguyệt hoặc biểu hiện hội chứng buồng trứng đa nang.
Trẻ mắc đái tháo đường type 2 vẫn có thể nhập viện trong tình trạng nặng như nhiễm toan ceton do đái tháo đường hoặc tăng áp lực thẩm thấu máu.
Chẩn đoán đái tháo đường thế nào?
Chẩn đoán đái tháo đường dựa vào một trong các tiêu chuẩn sau:
- HbA1c ≥ 6,5%.
- Đường huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL.
- Đường huyết tương 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 200 mg/dL.
- Có triệu chứng tăng đường huyết kèm đường huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL.
Đái tháo đường type 2 thường được gợi ý bởi các đặc điểm: trẻ thừa cân/béo phì, có gai đen, tiền sử gia đình đái tháo đường type 2, C-peptide còn bảo tồn hoặc tăng, không có tự kháng thể tụy.
Tuy nhiên, không nên dựa hoàn toàn vào hình thái béo phì để kết luận type 2 vì trẻ đái tháo đường type 1 cũng có thể thừa cân/béo phì.
Những trẻ nào cần được tầm soát đái tháo đường?
Tiêu chuẩn tầm soát bệnh ở trẻ có nguy cơ
Trẻ có một trong ba tiêu chí về cân nặng sau đây:
- Chỉ số BMI cao hơn bách phân vị thứ 85 theo tuổi và giới — nghĩa là BMI cao hơn khoảng 85% trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể tham chiếu.
- Cân nặng so với chiều cao cao hơn bách phân vị thứ 85 trên biểu đồ tăng trưởng.
- Cân nặng vượt 120% cân nặng lý tưởng tương ứng với chiều cao của trẻ.
Kèm theo bất kỳ 2 trong số các yếu tố nguy cơ sau:
- Tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường type 2 ở thế hệ thứ 1 hay thứ 2.
- Chủng tộc nguy cơ: người bản địa Mỹ, Úc, Canada, người gốc Tây Ban Nha, người Mỹ La tinh, người da đen, người Đông Á và Nam Á, người Trung Đông, người dân đảo Thái Bình Dương.
- Triệu chứng hay hội chứng đề kháng insulin (dày lớp gai đen, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hội chứng buồng trứng đa nang).
- Trẻ sinh nhỏ so với tuổi thai hay lớn so với tuổi thai.
Thời điểm tầm soát: 10 tuổi hay bắt đầu dậy thì.
Phương pháp: HbA1c, đường huyết lúc đói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose.
Tần suất: Mỗi 2 năm.
Đái tháo đường type 2 điều trị thế nào?
- Khi có nhiễm toan ceton hoặc nghi tăng áp lực thẩm thấu, trẻ cần được nhập viện theo dõi và điều trị.
- Nếu trẻ có đường huyết và HbA1c tăng cao nhưng không nhiễm toan, trẻ sẽ được kiểm soát đường huyết bằng thuốc uống, có thể phối hợp insulin tùy trường hợp.
Thay đổi lối sống và giáo dục gia đình
Điều trị đái tháo đường type 2 ở trẻ em không thể chỉ dựa vào thuốc. Trọng tâm là can thiệp lối sống phù hợp với lứa tuổi, văn hóa, điều kiện gia đình và tâm lý trẻ.
- Giảm nước ngọt, trà sữa, nước ép đóng chai, bánh kẹo và thức ăn nhanh.
- Ưu tiên bữa ăn cân bằng: rau, đạm nạc, cá, trứng, đậu, ngũ cốc nguyên hạt, trái cây nguyên quả với lượng phù hợp.
- Tránh ăn vặt liên tục và ăn khuya.
- Tăng vận động thể lực, mục tiêu khoảng 60 phút/ngày với các hoạt động mức vừa đến mạnh nếu trẻ đủ điều kiện.
- Giảm thời gian màn hình và hành vi tĩnh tại kéo dài.
- Không áp dụng chế độ ăn kiêng cực đoan vì trẻ vẫn đang tăng trưởng.
- Tư vấn tâm lý nếu trẻ có mặc cảm cân nặng, rối loạn ăn uống, trầm cảm hoặc khó tuân thủ điều trị.
Mục tiêu điều trị
Mục tiêu HbA1c tối ưu được khuyến nghị là dưới 6,5% nhưng cần cá thể hóa. Mục tiêu HbA1c dưới 7% được xem xét nếu trẻ có tình trạng hạ đường huyết đáng kể, bệnh đi kèm nặng, hoàn cảnh xã hội khó khăn hoặc chưa thể tự quản lý tốt.
Theo dõi gồm:
- HbA1c mỗi 3 tháng khi mới chẩn đoán, đang chỉnh thuốc hoặc kiểm soát chưa đạt; có thể thưa hơn nếu ổn định lâu dài.
- Tự theo dõi glucose máu hoặc CGM khi dùng insulin, có triệu chứng hạ/tăng đường huyết, hoặc cần đánh giá đáp ứng điều trị.
- Huyết áp mỗi lần khám.
- BMI, vòng eo, giai đoạn dậy thì, tốc độ tăng trưởng.
- Lipid máu, men gan, chức năng thận, albumin/creatinin niệu.
- Khám mắt phát hiện bệnh võng mạc tại thời điểm chẩn đoán hoặc sớm sau chẩn đoán.
- Khám bàn chân và đánh giá bệnh thần kinh ngoại biên định kỳ.
- Tầm soát và điều trị các bệnh lý đi kèm.
Biến chứng và bệnh đi kèm
Đái tháo đường type 2 ở trẻ em thường đi kèm béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, gan nhiễm mỡ chuyển hóa, hội chứng buồng trứng đa nang, ngưng thở khi ngủ và vấn đề tâm lý.
Biến chứng vi mạch như bệnh thận đái tháo đường, bệnh võng mạc và bệnh thần kinh có thể xuất hiện sớm hơn so với type 1 vì trẻ có thể đã tăng đường huyết và đề kháng insulin một thời gian trước khi được chẩn đoán.
Do đó, điều trị cần hướng đến kiểm soát toàn diện nguy cơ chuyển hóa chứ không chỉ hạ đường huyết. Bác sĩ cần phối hợp với gia đình để xây dựng kế hoạch lâu dài, thực tế, tránh đổ lỗi cho trẻ về cân nặng, đồng thời tăng khả năng tuân thủ điều trị.
Nội dung được kiểm duyệt chuyên môn bởi ThS. BS. CKI. Nguyễn Ngọc Vi Thư – Bác sĩ Nội tiết Nhi khoa Phương Châu.
Tài liệu tham khảo
- Lawrence JM, Divers J, Isom S, Saydah S, Imperatore G, Pihoker C, Marcovina SM, Mayer- Davis EJ, et al (2021), “Trends in Prevanlence of Type 1 and Type 2 Diabetes in Children and Adolescents in the US 2001-2017”, JAMA, 326(13) :1331. doi: 10.1001/jama.2021.16144
- Uptodate truy cập ngày 29/6/2026
- Amy S. Shaha Margarita Barrientos-Pérezb Nancy Changc Jun-Fen Fud Tamara S. Hannone Megan Kelseyf Alexia S. Peña, et al (2024), “ISPAD Clinical Practice Consensus Guidelines 2024: Type 2 Diabetes in Children and Adolescents”, Horm Res Paediatr;97:555–583, DOI: 10.1159/000543033