• Ngày tạo
  • Người tạo
  • Nhóm
    Nhi - Sơ sinh
  • Lượt xem

1. Bỏng và hậu quả của bỏng?
Bỏng là một tai nạn thường gặp ở trẻ em. Trong đó, 70% nguyên nhân bỏng là do trẻ tiếp xúc với chất lỏng nóng (thường gặp ở trẻ 18-36 tháng), kế đến là bỏng do lửa, điện, hóa chất… Bỏng nông và khu trú có thể điều trị tại nhà, tuy nhiên bỏng sâu và lan rộng cần được cấp cứu kịp thời, có thể cần phải ghép da để che phủ vết thương bỏng rộng hoặc để hạn chế sẹo sau bỏng. Trẻ bị bỏng nặng cần được chăm sóc đặc biệt tại chuyên khoa bỏng để tránh những hậu quả nghiêm trọng như: nhiễm trùng, tụt huyết áp, hạ thân nhiệt nghiêm trọng, tổn thương đường thở (bỏng do khí nóng hoặc khói thuốc), sẹo co kéo, biến dạng xương và khớp...


2/ Phân độ bỏng như thế nào?
Bỏng được chia làm 4 độ:
- Độ I: bỏng thượng bì, lớp tế bào đáy còn nguyên. Da đỏ rát như bỏng nắng.
- Độ II: tổn thương toàn bộ lớp thượng bì, còn một phần lớp tế bào đáy. Bóng nước tạo thành là do tách giữa lớp thượng bì và trung bì. Nền bóng nước đỏ và còn cảm giác. Trong đó, độ II(a) thì lớp tế bào đáy còn toàn vẹn phần lớn; II(b) thì chỉ còn tế bào biểu mô ở phần sâu các nang lông và các tuyến mồ hôi.
- Độ III: tổn thương lan đến lớp trung bì, lớp dưới da: không còn tế bào đáy, không còn lông móng, không còn cảm giác. Đáy thương tổn trắng bệch.
- Độ IV: tổn thương sâu hơn đến lớp mỡ, cân, cơ xương.
Ý nghĩa: bỏng độ I và II(a) là bỏng nông, có khả năng tự lành; từ độ II(b) trở lên là bỏng sâu, để lại sẹo co kéo, cần phải ghép da.

 

3. Tại sao cần thiết phải sơ cứu bỏng?
Việc sơ cứu ban đầu ở nhà khi trẻ bị bỏng là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho vết thương không bị ăn sâu vào bên trong và tránh tình trạng nhiễm trùng. Đối với các vết bỏng nhỏ, bạn có thể làm theo các bước:
- Làm mát vết bỏng để giảm đau: đặt vùng bị bỏng của bé dưới vòi nước mát từ 10-15 phút hoặc cho tới khi giảm đau. Chú ý không chườm nước đá trực tiếp lên vết bỏng vì sẽ làm tổn thương da, có thể dùng nước đá bọc trong khăn sạch để chườm mát.
- Tháo nhẫn hoặc bất cứ thứ gì thắt chặn vùng tổn thương bỏng. Cố gắng làm thật nhanh và nhẹ nhàng trước khi vùng bị bỏng phù nề.
- Không làm vỡ các bóng nước nhỏ (tương đương móng tay của bạn) vì bóng nước nguyên vẹn giúp phòng ngừa nhiễm trùng. Nếu bóng nước vỡ, rửa nhẹ nhàng bằng xà phòng dịu nhẹ và nước sạch, thoa thuốc mỡ kháng sinh sau đó băng lại bằng gạc không dính. Tránh sử dụng các biện pháp gia truyền như thoa kem đánh răng, lòng trắng trứng, bơ và trà... vì làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
- Có thể cho trẻ uống thuốc giảm đau không cần kê đơn như ibuprofen hoặc acetaminophen. Không dùng aspirin.

(Ảnh nguồn: BS Lương Quốc Chính, Điều trị bỏng như thế nào và Ths Bs Trần Thị Hồng Tâm, Sơ cứu trẻ bị bỏng)

 

Đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu trẻ bị bỏng có bóng nước kích thước lớn (lớn hơn móng tay), bỏng một vùng lớn trên cơ thể hoặc vết bỏng có dấu hiệu nhiễm trùng như chảy dịch, sưng nề, đỏ, đau tăng lên, trẻ sốt. Không được tự điều trị bỏng nặng tại nhà vì trẻ cần được cấp cứu ngay lập tức, vết bỏng nặng không thể tự liền và cần phải được chăm sóc y tế tích cực.
 

Bs Nguyễn Thành Lộc


Tài liệu tham khảo
1. Phác đồ điều trị nhi khoa 2013, Phỏng, trang 1078-1082.
2. Burns: First aid - Mayo Clinic (2015). Xem 1/8/2015. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/burns/basics/definition/con-20035028
3. Stephen Fenlon (2007), Burns in children. Xem 3/7/2007. http://www.medscape.com/viewarticle/560164
4. Trần Thị Hồng Tâm (2015), An toàn cho trẻ khi sơ cứu trẻ bị bỏng. Xem 18/9/2015. http://www.benhviennhi.org.vn/news/detail/4099/an-toan-cho-tre-khi-so-cuu-tre-bi-bong.html
5. Nguyễn Thị Huế, Lương Quốc Chính (2015), Sơ cứu bỏng. Xem 14/5/2015. http://bacsinoitru.vn/content/so-cuu-bong-1441.html

}