Mẹ tròn con vuông !

Số điện thoại cấp cứu




Bé sinh tại bệnh viện Quốc Tế Phương Châu vào ngày 06/12/2016
Bé sinh tại bệnh viện Quốc Tế Phương Châu vào ngày 06/12/2016
Bé sinh tại bệnh viện Quốc Tế Phương Châu vào ngày 06/12/2016
Bé sinh tại bệnh viện Quốc Tế Phương Châu vào ngày 05/12/2016
Bé sinh tại bệnh viện Quốc Tế Phương Châu vào ngày 05/12/2016

CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ VÔ SINH TẠI IVF PHƯƠNG CHÂU

 

Các bước cơ bản của một quy trình thụ tinh trong ống nghiệm

Vô sinh hiếm muộn là tình trạng một cặp vợ chồng không thể có con sau một năm quan hệ tự nhiên mà không sử dụng biện pháp ngừa thai. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, do chồng, do vợ, nguyên nhân phối hợp hay chưa rõ nguyên nhân.

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là một kỹ thuật điều trị hiện đại đang được áp dụng phổ biến trên thế giới và khu vực. Các công đọan của một chu kỳ TTTON bao gồm:

1. Kích thích buồng trứng:

- Sử dụng thuốc nội tiết để tăng số lượng trứng thu được

- Thời gian tiêm thuốc từ 2-4 tuần

 

2. Chọc hút trứng

- Thực hiện qua ngả âm đạo, dưới hướng dẫn của siêu âm

 - Dịch nang hút ra được đưa vào labo

 

3. Xử lý trứng

 - Tìm trứng có trong dịch nang dưới kính hiển vi

 - Rửa trứng trong môi trường nuôi cấy để loại bỏ máu

 - Cấy trứng trong tủ cấy 37oC, 6%CO2 và nồng độ oxy sinh lý trong thời gian 2-3 tiếng

 

4. Chuẩn bị tinh trùng

Chuẩn bị tinh trùng là kỹ thuật nhằm loại bỏ tinh dịch (có hại cho tinh trùng nếu tiếp xúc lâu) và lựa chọn lại những tinh trùng “bình thường” nhất

5. Cho trứng và tinh trùng thụ tinh

Có thể thực hiện bằng cách cấy trứng với tinh trùng (tinh trùng tự “chui” vào trứng), còn gọi là TTTON cổ điển, hay tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (dùng cụng cụ đặc biệt bắt tinh trùng cho vào trứng), còn gọi là ICSI (đọc là íc-si).

6. Nuôi cấy phôi

Thời gian nuôi cấy khoảng 2 ngày

7. Chuyển phôi

Lựa chọn phôi tốt nhất để chuyển. Số phôi chuyển sẽ thảo luận với bệnh nhân để quyết định. Tùy trường hợp cụ thể mà lực chọn phôi chuyển khác nhau, trung bình bệnh nhân sẽ được chuyển khoảng 3 phôi.

Khi chuyển phôi, bác sĩ sử dụng một catheter đầu mềm để đưa phôi vào lòng tử cung (dưới hướng dẫn của siêu âm).

8. Thử thai + Siêu âm thai

Sau khi chuyển phôi 2 tuần, bệnh nhân quay lại thử xem mình có thai không (thử máu hay còn gọi là xét nghiệm beta hCG).

Nếu thử thai dương tính, 3 tuần sau đó (tổng cộng 5 tuần từ ngày chuyển phôi) sẽ được siêu âm để biết số lượng thai, vị trí và tình trạng thai. Bệnh nhân chỉ được xác nhận là có thai (thai lâm sàng) khi thấy em bé trên siêu âm và có tim thai.

Như vậy để thực hiện một chu kỳ TTTON:

  •  Thời gian kéo dài khoảng 4 tuần lễ
  •  Cần có sự phối hợp hoạt động của hai bộ phận:
  •  Lâm sàng: bước 1, 2, 7 và 8
  •  Labo: bước 3, 4, 5 và 6
  •  Chi phí điều trị hiện nay tại Việt Nam là thấp so với các nước trong khu vực (khoảng 40-50 triệu), trong đó, khoảng 2/3 là chi phí tiêm thuốc kích thích buồng trứng.

Sơ đồ minh họa quy trình TTTON

 

Các chỉ số dùng để đánh giá một chương trình TTTON

 - Tính an toàn: đánh giá qua tỷ lệ tai biến

 - Quá kích buồng trứng (buồng trứng đáp ứng quá mức với thuốc kích thích buồng trứng)

 - Xuất huyết nội (chảy máu trong bụng, xảy ra sau khi chọc hút trứng)

 - Đa thai (có ≥ 2 thai trong tử cung)

 - Tính hiệu quả

 - Tỷ lệ làm tổ của phôi

 - Tỷ lệ thai lâm sàng

TTTON cổ điển (cấy trứng với tinh trùng, sau đó, tinh trùng tự “chui” vào trứng) thường được áp dụng cho các trường hợp tắc hai vòi trứng (đường dẫn để tinh trùng và trứng gặp nhau).

Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI, đọc là íc-si) thường được áp dụng cho các trường hợp vô sinh nam, tinh trùng bất thường nặng.

Bên cạnh hai kỹ thuật cơ bản là TTTON cổ điển và ICSI, một số kỹ thuật tiên tiến khác cũng đã được triển khai thành công tại IVF Mekong, bệnh viện Phụ Sản Quốc tế Phương Châu:

 

1. Kích thích buồng trứng bằng phác đồ mới để hạn chế quá kích buồng trứng

Quá kích buồng trứng (QKBT) là tình trạng đáp ứng quá mức của buồng trứng với thuốc kích thích. Tình trạng QKBT có thể gây khó chịu cho bệnh nhân, trong một số trường hợp nặng phải nhập viện theo dõi, điều trị hay phải bỏ thai

Với phác đồ mới này, QKBT nặng hoàn toàn không xảy ra, có thể tăng tính an toàn cho điều trị.

 

2. Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng, sử dụng tinh trùng từ mô tinh hoàn đông lạnh

Những bệnh nhân không có tinh trùng trong tinh dịch sẽ được mổ tinh hoàn để tìm tinh trùng. Nếu có tinh trùng, mẫu mô tinh hoàn sẽ được trữ đông.

Vào ngày người vợ lấy trứng, mẫu mô tinh hoàn được rã đông để sử dụng.

Ưu điểm của phương pháp này là người chồng không phải mổ lại nhiều lần => tăng tính thuận tiện, an toàn và giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân. 

 

3. Thử nghiệm “phản ứng nhược trương” HOST

Việc lựa chọn tinh trùng sống để tiêm vào bào tương trứng dựa vào khả năng di động của tinh trùng. Nếu sử dụng tinh trùng đã chết tiêm vào bào tương trứng thì phôi sẽ không được hình thành. Do đó, trong những trường hợp tinh trùng bất động hoàn toàn, sử dụng thử nghiệm này sẽ phân biệt được tinh trùng sống và chết.

 

4. Hỗ trợ hoạt hóa trứng

Một số trường hợp sau ICSI (tiêm tinh trùng vào trứng) mà không có phôi, nguyên nhân có thể do thiếu một yếu tố “hoạt hóa trứng”.

Những trường hợp như thất bại thụ tinh, thụ tinh ít hay tinh trùng dị dạng nhiều có thể áp dụng hỗ trợ hoạt hóa trứng để tăng số lượng phôi được tạo thành, từ đó, tăng tỷ lệ thành công của điều trị.

 

5. Hỗ trợ phôi thoát màng

Phôi trước khi làm tổ (bám vào niêm mạc tử cung) phải thoát khỏi lớp màng bao xung quanh. Hỗ trợ thoát màng nhằm làm mỏng hay tạo một lỗ thủng trên màng bao xung quanh của phôi, giúp phôi dễ dàng thoát ra ngoài và bám vào niêm mạc tử cung để làm tổ hơn.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thai tăng khoảng 7% trong các chu kỳ có hỗ trợ thoát màng.

 

6. Trữ lạnh phôi bằng thủy tinh hóa

Trữ lạnh phôi là một kỹ thuật lưu trữ phôi trong điều kiện -196oC, thường được áp dụng trong các trường hợp:

  •  Phôi dư sau khi chuyển phôi. Bệnh nhân nếu thất bại hay muốn có thêm con sau lần điều trị đầu tiên có thể quay lại chuyển phôi trữ, không cần kích thích buồng trứng, chọc hút trứng mà chỉ cần rã đông phôi trữ để chuyển.
  •  Trữ phôi toàn bộ, thường được chỉ định trong các trường hợp có nguy cơ quá kích buồng trứng (nếu có thai sau chuyển phôi thì diễn tiến có thể nặng hơn) hay niêm mạc tử cung không thuận lợi cho phôi bám vào, bệnh nhân sẽ trữ phôi toàn bộ để chuyển trong chu kỳ kế tiếp.

Thủy tinh hóa trong trữ lạnh phôi giúp phôi sau rã đông có tỷ lệ sống cao hơn và tỷ lệ có thai từ thủy tinh hóa cao hơn so với kỹ thuật trữ lạnh trước đây.

 

7. Giảm thai

Nếu bệnh nhân có ≤ 2 thai trong tử cung sẽ được theo dõi thai bình thường.

Nếu có từ 3 thai trở lên, bệnh nhân sẽ được tiến hành giảm thai để tối đa trong tử cung chỉ có 2 thai.

Kỹ thuật giảm thai thực hiện tương tự chọc hút trứng, qua siêu âm ngả âm đạo