Mẹ tròn con vuông !

Số điện thoại cấp cứu

MỘT SỐ DỊ DẠNG CƠ QUAN SINH DỤC NGOÀI CỦA NỮ

 
BS. CKII. Nguyễn Duy Linh
Trưởng Khoa Khám Bệnh Sản Phụ Khoa

1. Dị dạng cơ quan sinh dục ngoài:

1.1. Hẹp âm hộ:

Hai môi bé bị dính nhau ở mép, toàn bộ hoặc bán phần. Trường hợp này có thể che khuất âm đạo, khiến bạn gái khó giao hợp hoặc không thể giao hợp, cũng như ảnh hưởng đến việc sinh con.

1.2. Dị dạng màng trinh: có nhiều dạng

+ Màng trinh không thủng (imperforate hymen): theo Parazzini, 1990 chiếm tỉ lệ 1/2,000 phụ nữ.

Màng trinh không thủng là tình trạng chít hẹp màng trinh, làm cho các chất tiết của âm đạo không thải ra ngoài được. Thông thường, khi bé gái mới sinh ra mà có hiện tượng màng trinh không thủng có thể thấy có một màng mỏng, màu trắng hơi phồng ra ở giữa hai môi bé.
Bình thường màng trinh của bạn gái không kín hết mà thường có lỗ để máu kinh hàng tháng thoát ra. Tuy nhiên, có không ít trường hợp, màng trinh của bạn gái không có lỗ. Đây chính là một trong các nguyên nhân khiến bạn gái không thấy có kinh hàng tháng, dù vẫn có một số dấu hiệu của có kinh như đau tức bụng dưới, mỏi lưng, căng tức ngực... Do đó, nếu bạn gái đã 18 tuổi mà vẫn chưa thấy có kinh thì cần nghĩ đến hiện tượng này. Bác sĩ chỉ cần kiểm tra âm hộ là có thể phát hiện ra ngay và “tạo lỗ” ở màng trinh để hàng tháng kinh nguyệt có thể thoát ra ngoài.
+ Màng trinh có vách ngăn (septate hymen).
+ Màng trinh có lỗ thủng nhỏ (microperforate hymen).
+ Màng trinh có nhiều lỗ thủng hay còn gọi là dạng sàng (cribriform hymen)
Hình 1: Các dạng màng trinh
(theo: Bradchaw KD, Cunningham FG: Williams Gynecology)

 



Hình 2: Mạng màng trinh không thủng và phẫu thuật tạo hình màng trinh
(theo: Bradchaw KD, Cunningham FG: Williams Gynecology và https://www.netterimages.com/hymenal-stenosis-labeled-smith-2e-gynecology-frank-h-netter-9043.html)
1.3. Các đường niệu- sinh dục thông ra ngoài bằng một lỗ chung: do còn sót lại một đoạn của xoang niệu sinh dục.
1.4. Trực tràng mở vào đường sinh dục, thường vào âm đạo.
1.5. Âm vật to (Clitoromegaly):

Âm vật to thường được phát hiện lúc sanh khi có kích thước > 10mm2. Nguyên nhân thường do bị ảnh hưởng của tình trạng tăng Androgens quá mức hay xảy ra trên trẻ sơ sinh non tháng, ngôi mông với phù nề âm hộ, viêm âm hộ âm đạo nặng, mãn tính, bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatosis) (Dershwitz, 1984; Greer, 1981). Phụ nữ trưởng thành có âm vật to do cường Androgen cũng đồng thời có những triệu chứng khác, như: rậm lông, mụn trứng cá, da nhờn, giọng to, vú nhỏ…

2. Dị dạng âm đạo:

Âm đạo có cấu tạo hình ống, nối giữa âm hộ và tử cung. Trong một số trường hợp, âm đạo có thể có những dị dạng sau:
+ Không có âm đạo:
Có những bạn gái khi sinh ra đã không có âm đạo, tuy nhiên, vẫn có thể có tử cung và buồng trứng như bình thường. Trường hợp này, máu kinh cũng không thể thoát ra ngoài được nên bị đọng lại trong tử cung và tràn lên sừng tử cung. Những trường hợp này khó điều trị, phải phẫu thuật tạo hình âm đạo. Sau khi được điều trị, bạn gái có thể có quan hệ tình dục (giao hợp) và sinh con (nếu hoạt động của buồng trứng, tử cung hoàn toàn bình thường). Những trường hợp này không sinh con theo đường âm đạo mà cần được sinh mổ.
+ Teo âm đạo bẩm sinh:
Bạn gái vẫn có đủ 2 buồng trứng, tử cung, vòi trứng hoàn chỉnh, nhưng chỉ có phần trên âm đạo, còn phần dưới bị teo lại và bít kín. Do vậy, khi đến tuổi dậy thì, máu kinh cũng không thể thoát ra bên ngoài được, khiến bạn gái thường hay bị đau bụng, bụng dưới ngày càng to ra do bị ứ máu kinh lâu ngày. Với những trường hợp này, bác sĩ sẽ mở một đường âm đạo mới cho bạn gái.
+ Âm đạo có vách ngăn:
Hay còn gọi là âm đạo kép. Theo Banerjee (1998), tỉ lệ âm đạo có vách ngăn chiếm 1/70,000 phụ nữ. Vách ngăn có thể gây bít tắc, gây ứ máu và dịch nhày bên trong hay không bít tắc cho phép máu và dịch thoát ra ngoài. Trường hợp này có 2 loại:
- Vách ngăn ngang âm đạo: trong âm đạo có vách ngăn ngang âm đạo, có thể nằm ở 1/3 trên, 1/3 giữa hay 1/3 dưới ( thường ở 1/3 trên hơn ). Theo Rock (1982), 46% vách ngăn ở 1/3 trên, 35% ở 1/3 giữa và 19% ở 1.3 dưới. Độ dày của vách ngăn có thể thay đổi khác nhau, vách ngăn sẽ dày hơn nếu nếu nằm gần cổ tử cung. Vách ngăn được gọi là mỏng nếu độ dày trung bình khoảng 1cm. Rock đã công bố có những trường hợp vách ngăn dày 5-6cm.
Theo Adaletli (2007), ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có vách ngăn ngang âm đạo gây bít tắc sẽ dẫn đến hậu quả là máu và dịch nhầy sẽ ứ đọng phí trên của âm đạo, lâu ngày tạo thành khối dịch gây chèn ép các lên ổ bụng và các tạng xung quanh. Có những trường hợp chèn ép gây giới hạn sự di chuyển của cơ hoành dẫn tử vong sơ sinh.
Bé gái tuổi dậy thì có vách ngăn âm đạo gây tắc nghẽn sẽ có tình trạng đau bụng dưới theo chu kỳ, vô kinh và có khối vùng chậu ngày càng phát triển to lên. Ngược lại, nếu có vách ngăn nhưng không tắc nghẽn, người phụ nữ sẽ có tình trạng máu kinh ra bất thường, đau bụng khi giao hợp, khó khăn khi đặt vào và lấy tampon ra, cũng như chuyển dạ sanh bị cản trở.
Hình 3: MRI của 1 bé gái 13 tuổi có vách ngăn ngang âm đạo gây bít tắc tạo thành khối máu tụ bán cấp ( mũi tên ), phía trên là tử cung.

 

- Vách ngăn dọc âm đạo: thường có khoảng 20% trường hợp này đi kèm với dị dạng tử cung. Vách ngăn dọc âm đạo có thể hoàn toàn suốt dọc âm đạo hoặc chỉ một phần. Biểu hiện chủ yếu là đau khi giao hợp hoặc không giao hợp được. Dạng không bít tắc có thể được điều trị bảo tồn trừ khi có triệu chứng đau khi giao hợp. Điều trị phẫu thuật bao gồm cắt vách dọc âm đạo.
Trong trường hợp âm đạo có vết ngăn dọc gây bít tắc. Bệnh nhân khi đến tuổi dậy thì sẽ có kinh nguyệt bình thường, tuy nhiên lại có cảm giác nặng nề một bên âm đạo tăng lên hàng tháng và đau vùng chậu ( theo Carlson, 1992). Khi khám sẽ chú ý âm đạo và cổ tử cung, nhưng chỉ thấy được 1 bên âm đạo và khối ở vùng chậu (khối này được hình thành do tắc nghẽn một bên âm đạo với tử cung bị chia đôi). Tổn thương này thường đi kèm với dị tật thận lạc chỗ một bên.
Hình 4: Tử cung đôi với tắc nghẽn một bên âm đạo. A: Tắc toàn bộ. B: thông nhau một phần tại ÂĐ. C: thông nhau một phần tại tử cung.
* Tài liệu tham khảo:
  1. Sự hình thành hệ tiết niệu sinh dục. http://giangduongykhoa.net/y-hoc-co-so/phoi-thai-di-truyen/su-hinh-thanh-he-tiet-nieu-sinh-duc.html
  2. Karen D. Bradshaw (2008). Williams Gynecology, Chapter 18: Anatomic Disorders